TS. Nguyễn Xuân Hợi

 

 

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

So sánh hiệu quả của phác đồ kích thích buồng trứng bằng GnRH agonist đơn liều thấp 1,25mg và GnRHa đa liều 0,1mg phối hợp với FSH tái tổ hợp trong thụ tinh trong ống nghiệm.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bao gồm những bệnh nhân điều trị vô sinh bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 2006-2009. Tiêu chuẩn lựa chọn gổm: Tuổi ≤35. Kinh nguyệt đều. Vô sinh do vòi tử cung hoặc vô sinh không rõ nguyên nhân. Hàm lượng FSH cơ bản ngày 3 của chu kỳ ≤ 10 IU/l. Tiền sử làm thụ tinh trong ống nghiệm ≤2 lần. Người chồng có tinh dịch đồ bình thường theo tiêu chuẩn của WHO 1999. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm: Tiền sử phẫu thuật ở buồng trứng, tử cung. Lạc nội mạc tử cung. Dính tiểu khung, lao ổ bụng, ứ nước vòi trứng. Tử cung có nhân xơ, dị dạng.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh giữa 2 phác đồ điều trị (Randomized Clinical Trial). Cỡ mẫu nghiên cứu là 294 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên nhận phác đồ kích thích buồng trứng với GnRHa đơn liều thấp 1,25mg hoặc phác đồ GnRHa đa liều 0,1mg. Phác đồ đơn liều bệnh nhân được tiêm triptorelin 1,25mg một lần duy nhất vào ngày 21 của chu kỳ kinh. Phác đồ đa liều bệnh nhân được tiêm triptorelin 0,1mg liên tục 12 ngày từ ngày 21 của chu kỳ kinh. Sau khi đạt được sự ức chế tuyến yên thì bệnh nhân được tiêm FSH tái tổ hợp. Đối với phác đồ GnRHa đa liều thì khi kết hợp với FSH tái tổ hợp, triptorelin vẫn tiếp tục tiêm duy trì. Siêu âm theo dõi sự phát triển của nang noãn đến khi có ít nhất 1 nang có kích thước >=18mm thì tiêm hCG. Hút noãn sau 36 giờ. Chuyển phôi ngày 2-3.

KẾT QUẢ

Phác đồ kích thích buồng trứng bằng GnRHa đơn liều thấp 1,25 mg cho kết quả tương đương với phác đồ GnRHa đa liều về:

–           Sự đáp ứng của buồng trứng, độ dầy của NMTC, số nang noãn ≥14mm ngày tiêm hCG.

–           Số noãn trung bình: nhóm đơn liều 8,1±4,1 và nhóm đa liều 8,8±4,9.

–           Số phôi trung bình: nhóm đơn liều là 6,1±3,5 và nhóm đa liều 6,7±4,3.

–           Tỷ lệ làm tổ: nhóm đơn liều là 41,3% và nhóm đa liều là 39,9%.

–           Tỷ lệ sinh sống/chu kỳ: nhóm đơn liều là 33,3% vànhóm đa liều là 23,1%.

–           Tỷ lệ sinh sống/chuyển phôi: nhóm đơn liều là 33,8% và nhóm đa liều là 23,5%.

–           Tỷ lệ đa thai: 38,3% ở nhóm đơn liều và 37,5% ở nhóm đa liều.

–           Hai phác đồ tương đương về tỷ lệ sảy thai, thai lưu, chửa ngoài dạ con, đẻ non và thai dị dạng.

Phác đồ kích thích buồng trứng bằng GnRHa đơn liều thấp 1,25 mg cho kết quả cao hơn có ý nghĩa thống kê so với phác đồ GnRHa đa liều về:

–           Tỷ lệ thụ tinh:  nhóm đơn liều là 87,1%, nhóm đa liều là 82,9%.

–           Chất lượng phôi: Số phôi chất lượng tốt ở nhóm đơn liều cao hơn so với nhóm đa liều, lần lượt là 3,8 ± 3,3 và 3,3 ± 3,9.

–           Tỷ lệ thai lâm sàng/chu kỳ: nhóm đơn liều 42,2%, nhóm đa liều 28,6%.

–           Tỷ lệ thai lâm sàng/chuyển phôi: nhóm đơn liều là 42,8%, nhóm đa liều là 29%.

KẾT LUẬN

Phác đồ kích thích buồng trứng bằng GnRHa đơn liều thấp 1,25mg làm giảm số lần tiêm, giảm stress, dễ chịu hơn đối với người bệnh  so với phác đồ GnRHa đa liều 0,1mg. Phác đồ kích thích buồng trứng bằng GnRHa đơn liều thấp 1,25mg cho hiệu quả cao trong thụ tinh trong ống nghiệm và đưa ra một phác đồ mới trong điều trị.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Up ↑

%d bloggers like this: