Thuật toán dự đoán nguy cơ ung thư buồng trứng


Sau 2 năm thực hiện, kết quả nghiên cứu về thuật toán dự đoán nguy cơ ung thư buồng trứng vừa được công bố đầu năm nay trên tạp chí British Medical. Theo kết quả này, gần 2/3 trường hợp trong 10% phụ nữ được dự đoán nguy cơ cao nhất diễn tiến thành ung thư buồng trứng trong nhóm nghiên cứu.

 

Những nhà nghiên cứu từ Đơn vị chăm sóc sức khỏe ban đầu Đại học Nottingham Anh quốc đã mô tả cách họ phát triển và đánh giá thuật toán nhằm ước lượng nguy cơ bị ung thư buồng trứng phụ nữ, dù có hay không có triệu chứng của bệnh.

Việc chẩn đoán sớm ung thư buồng trứng vốn được coi là một thách thức vì hầu hết những dấu hiệu hay triệu chứng ở giai đoạn này đều không đặc hiệu.

Dữ liệu nghiên cứu được cung cấp bởi 375 bác sĩ thuộc hệ thống nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe ban đầu để đưa ra những phép tính dự đoán nguy cơ. Đoàn hệ nghiên cứu gồm 1.158.723 phụ nữ từ 30-84 tuổi chưa từng được chẩn đoán ung thư buồng trứng và cũng không biểu hiệu triệu chứng nào của bệnh này trong vòng 12 tháng trước đó.

Sau quá trình theo dõi kéo dài 2 năm liên tiếp, có 976 trường hợp xuất hiện ung thư buồng trứng. Những yếu tố độc lập và liên quan chủ yếu với ung thư buồng trứng bao gồm tuổi, tiền căn gia đình (yếu tố dự đoán mạnh nhất với tỷ lệ nguy cơ là 9.8), thiếu máu, đau bụng, báng bụng, xuất huyết trực tràng, xuất huyết hậu mãn kinh, ăn kém và sụt cân.

Những yếu tố được sử dụng trong thuật toán cuối cùng (đã được trình bày đầy đủ trong bài báo đăng) bao gồm:

  • Tiền căn gia đình có người bị ung thư buồng trứng
  • Hemoglobin trong máu < 110g/L
  • Gần đây có các triệu chứng: đau bụng, báng bụng, ăn kém, xuất huyết trực tràng, xuất huyết hậu mãn kinh, sụt cân
  • Tuổi

Để kiểm tra thuật toán, các tác giả áp dụng cho nhóm gồm 608.862 phụ nữ từ 30-84 tuổi. Trong nhóm nghiên cứu thử này, có 538 trường hợp bị ung thư buồng trứng sau 2 năm.

Thời gian chẩn đoán dao động 57,6% theo thuật toán. Hơn nữa, phân tích thống kê D và đường cong ROC trong nghiên cứu cho thấy giữa tỷ lệ dự đoán và tỷ lệ quan sát trên thực tế rất gần giống nhau. Có 63% trường hợp được chẩn đoán ung thư buồng trứng trong nhóm 10% có dự đoán nguy cơ cao sau thời gian 2 năm của nghiên cứu.

Các nhà nghiên cứu kết luận: “Sau khi được kiểm tra ở đoàn hệ nghiên cứu độc lập, thuật toán đã có định chuẩn tốt cũng như có thể được áp dụng trên những phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư buồng trứng nhằm giúp phát hiện bệnh sớm”. Bước tiếp theo, những nhà nghiên cứu sẽ tìm cách tốt nhất để ứng dụng thuật toán này, đánh giá hiệu quả – chi phí thực hiện và xem xét khả năng ứng dụng trong việc chẩn đoán giai đoạn hay tỷ lệ sống của ung thư buồng trứng.

Nguồn : Hippisley-Cox J, Coupland C. BMJ. 2012;314:doi:10.1136/bmj.d8009.
www.ORGYN.com

BS Dương Khuê Nghi

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Up ↑

%d bloggers like this: