CẢI THIỆN TỶ LỆ CÓ THAI SAU IUI BẰNG CÁCH TĂNG ĐỘ DI ĐỘNG CỦA TINH TRÙNG VỚI YẾU TỐ HOẠT HOÁ TIỂU CẦU


Tóm tắt: 10 – 15% các cặp vợ chồng bị vô sinh,  và nguyên nhân do vợ và chồng là tương đương nhau. Đối với người chồng, đòi hỏi phải có một số lượng tinh trùng nhất định với hình dạng bình thường và độ di động hiệu quả để có khả năng hoạt hoá cao và cùng với sự hoạt động của acrosome để có thể xâm nhập vào trứng trong quá trình thụ tinh. Nếu thiếu bất kỳ một trong những yếu tố trên sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ tinh. Một số yếu tố nội sinh đã cho thấy có điều hoà đến khả năng thụ tinh của tinh trùng, bao gồm yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (PAF). PAF rõ ràng đóng một vai trò quan trọng trong sinh lý sinh sản. Nó ảnh hưởng đến sự phóng noãn, sự thụ tinh, sự phát triển của phôi trước khi làm tổ, làm tổ và sinh con. PAF ngoại sinh đã được sử dụng để tăng độ di động của tinh trùng, khả năng của tinh trùng và hoạt hoá acrosome. Kết luận, việc thêm PAF vào môi trường lọc rửa tinh trùng trong IUI cho tỷ lệ có thai cao một cách đáng kể.

 

Ở nhiều trung tâm HTSS, thuốc gây phóng noãn kết hợp với IUI là liệu pháp điều trị tiêu chuẩn cho những nguyên nhân vô sinh không do tai vòi. Cũng như là điều trị đầu tiên cho những cặp vợ chồng vô sinh, IUI thường được áp dụng nhất và có giá trị hiệu quả tương đối. Sự thành công của IUI phụ thuộc vào việc phác đồ kích thích gây phóng noãn cũng như là trị số tinh dịch. Tỷ lệ có thai tích lũy cho 3 chu kỳ IUI có thể đạt đến tương đương với một chu kỳ IVF nếu có kết hợp với FSH ngoại sinh trong IUI.

Phân tích và chuẩn bị tinh trùng cho HTSS phải là tiến trình đầu tiên để đảm bảo được một dân số tinh trùng di động tốt và hình dạng bình thường giúp cho việc thụ tinh dễ dàng hơn. Trong IUI, việc lọc rửa tinh trùng là rất quan trọng để loại bỏ prostaglandins, các mảnh vỡ và bạch cầu cũng như làm giảm số lương tinh trùng không di động. Thêm vào đó,  việc loại bỏ huyết thanh tinh dịch cũng có hiệu quả cho tinh trùng do làm tăng khả năng hoạt hoá và tăng độ di động của tinh trùng. Một số yếu tố được thêm vào giúp cải thiện độ di động tinh trùng đã được chứng minh như cAMP, human Follicular fluid, xanthine, caffeine, pentoxifiline và platelet activating factor (PAF). Trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào yếu tố PAF, yếu tố đầu tiên theo kinh nghiệm của nhiều tác giả và cũng có lợi điểm là PAF là một chất tự nhiên không gây độc cho tinh trùng như một số yếu tố khác (Henkel và Schill, 2003).

PAF: 1-O-alkyl-2-O-acetyl-sn-glycero-3-phosphorylcholine, đã cho thấy là một trong những yếu tố quan trong trong y khoa từ khi nó được chứng minh lần đầu tiên cách đây hơn 30 năm khi khám phá PAF từ sự kết hợp tiểu cầu ở thỏ trong IgE – stimulated basophils (Benveniste và cs, 1992). Từ đó, nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng PAF là một phospholipid duy nhất có nhiều chức năng sinh học được thêm vào trong hoạt động của tiểu cầu (Hanahan, 1986; Braquet và cs, 1987). PAF đóng vai trò rất quan trọng trong sinh lý học sinh sản. Nó ảnh hưởng đến sự phóng noãn, sự thụ tinh, sự phát triển phôi tiền làm tổ, làm tổ và sinh sản (Harper, 1989). PAF còn tồn tại nội sinh trong cơ thể như một chuỗi phân tử hỗn hợp với những thay đổi cấu trúc của ½ alkyl, cùng với chuỗi C-16 điển hình trong tinh trùng người (Sanwick và cs, 1992). Mặc dù cơ chế hoạt động của PAF còn chưa rõ, thì tầm quan trọng của PAF trong chức năng sinh sản là rõ ràng. Kết luận, PAF có thể cung cấp cho chúng ta với chất dánh dấu sinh học cho chức năng tinh trùng bình thường.

Phospholipase A2 hiện diện trong tinh trùng người. Nó phụ thuộc calcium và là chất xúc tác để hình thành 1-alkyl-2-lyso-sn-glycero-3-phosphocholine (lyso-PAF, là một chất sinh học không hoạt động) từ alkyl-acylglycerophosphocholine, một cấu trúc trơ của màng tế bào (Bennet và cs, 1987). Lyso-PAF sẽ được acetyl hóa bởi acetyl transferase sử dụng acetyl-CoA như một acetate donor để hình thành PAF. Lyso-PAF cũng có thể được acetyl hoá bởi một CoA không phụ thuộc arachidonyltransacylase để hình thành alkylacyl-glycerophosphocholine. Acetylhydrolase là enzym đầu tiên chịu trách nhiệm cho PAF đang không hoạt động bằng cách loại bỏ nhóm acetate từ vị trí sn-2, kết quả trong việc hình thành trở lại của lyso-PAF (resulting in the reformation of lyso-PAF). Acetyltransferase và acetylhydrolase đều hiện diện trong tinh dịch và tinh trùng động vật có vú (Gujarit và cs, 1987). Kết luận, cả hai enzym đều cần thiết cho việc hoạt động và mất hoạt động của PAF hiện diện trong tinh trùng. Acetylhydrolase có thể hoạt động tự thân như một yếu tố làm mất khả năng hoạt hoá của tinh trùng (Letendre và cs, 1992). Thực sự, có những dữ liệu đề nghị việc loại bỏ acetylhydrolase trong khi tổng hợp PAF sẽ giúp làm tăng độ di động của tinh trùng và cải thiện sự tương tác giữa trứng và tinh trùng.(Hellstrom và cs, 1993; Roudebush và cs, 1993). PAF có thể thực sự là một chất đánh dấu khả năng và PAF-hydrolase như một yếu tố mất khả năng (Zhu và cs, 2004).

PAF có trong tinh trùng nhưng không có trong dịch tiết tinh dịch (Kumar vàcs, 1988; Parks và cs, 1990). PAF đã được tìm thấy có trong tinh trùng của nhiều loài động vật có vú như: thỏ, chuột, bò và lợn (Kuzan và cs, 1990; Kumar và cs, 1998). PAF và thụ thể của nó cũng hiện diện trong nhiều loài động vật phát triển bật nhất như: khỉ, vượn, động vật linh trưởng…(Roudebush và cs, 1998-2001-2002). Cuối cùng, PAF hiện diện trong tinh trùng người (Minhas và cs, 1991).

Sự chuyển hoá của PAF ảnh hưởng bởi androgens, estrogens và progesterone (Mguruma và cs, 1993; Ohshihe và cs, 1994). Hormone androgen đóng vai trò quan trọng trong sự thụ tinh ở nam và giảm đáng kể trong suốt thời kỳ không sinh sản. Nồng độ PAF trong tinh trùng của khỉ rhesus (Macaca mulatto) có liên quan trực tiếp tới độ di động và di động tiến tới của tinh trùng (Roudebous và cs, 2002). Nồng độ của PAF trong tinh trùng người lúc đầu được nhận thấy là liên quan tỷ lệ nghịch với chất lượng tinh trùng (Angle và cs, 1991. Tuy nhiên, Roudebous và Purnell (2002) đã báo cáo cho thấy nồng độ PAF trong tinh trùng người cho quá trình IVF có tương quan tỷ lệ thuận với chỉ số di động và tỷ lệ có thai.

Việc thêm PAF vào trong tinh trùng người làm tăng độ di động, tăng sự thâm nhập qua chất nhầy CTC và cải thiện kết quả thực nghiệm sự thâm nhập của tinh trùng (Naz và Minhas, 1995). Để thụ tinh vào một trứng thành công, tinh trùng phải có khả năng thâm nhập qua lớp ngoài bao quanh noãn, bao gồm tế bào cumulus và màng zona pellucida. Nhiều nhà nghiên cứu đã kiểm tra ảnh hưởng của PAF ngoại sinh trên độ di động tinh trùng người (Ricker và cs, 1989; Jarvi và cs, 1993; Krausz và cs, 1994). Tinh trùng với PAF sẽ cải thiện đáng kể độ di động. Cấy tinh trùng người với PAF làm tăng số lượng tinh trùng trải qua phản ứng acrosome (Karusz và cs, 1994; Lee và cs, 1997). Những tinh trùng đã cho PAF cho tỷ lệ thụ tinh với trứng cao hơn so với nhóm cho lyso-PAF (Fukuda và cs, 1994). Một tỷ lệ cao hơn việc hình thành phôi blastocyst cũng được ghi nhận từ tinh trùng đã được cho PAF. Sự hình thành tiền nhân cũng được báo cáo cho thấy tinh trùng đã trải qua phản ứng acrosome cho thời gian được rút ngắn lại hơn so với tinh trùng mà acrosome còn nguyên vẹn (Fukuda và cs, 1994).

Tinh trùng được chuẩn bị cho IUI sử dụng môi trường rửa bổ sung thêm PAF cho kết quả tỷ lệ có thai tăng đáng kể (Roudebush và cs, 2004; bảng 1). Những đặc điểm này đã được xác minh bởi các nhà nghiên cứu khác và xác nhận kết quả đầu tiên của chúng tôi cho thấy hiệu quả của PAF ngoại sinh bổ sung trong một chu trình làm IUI (Grigoriou và cs, 2005; bảng 1). Điều đó ghi nhận rằng trong tất cả các nghiên cứu, sự cải thiện đáng kể tỷ lệ thai IUI có thể chỉ được quan sát ở những bệnh nhân mà sự phân tích tinh dịch là bình thường (Baka và cs, 2009). Điều trị tinh trùng cho những bệnh nhân vô sinh nam với PAF cho thấy tăng tỷ lệ có thai, mặc dù không có ý nghĩa thống kê. Điều này có thể là do những tinh trùng của những bệnh nhân này không có khả năng đáp ứng với PAF ngoại sinh do thiếu thụ thể PAF và/hoặc thụ thể PAF bị khiếm khuyết. Gần đây chúng tôi đã có một báo cáo về sự hiện diện và đóng góp của thụ thể PAF trong tinh trùng người và những dữ liệu đầu tiên của chúng tôi cũng đã chứng minh rằng sự góp phần của thụ thể làm thay đổi đáng kể những tinh trùng bất thường (Roubedush và cs, 2000; Purnell và Roudebush, 2001). Chúng tôi cũng nhận thấy rằng những thụ thể PAF có gắn mRNA thì có sự khác biệt đáng kể giữa tinh trùng di động và không di động. PAF đóng một vai trò đáng kể trong chức năng tinh trùng và có thể ảnh hưởng đến độ di động và sự thụ tinh qua trung gian thụ thể được kiểm soát bởi kênh calcium bên trong tế bào. PAF cũng được nhận thấy là yếu tố làm tăng thêm khả năng hoạt hoá của tinh trùng (Sengoku và cs, 1993).

Những nghiên cứu lâm sàng sau này thêm nữa sẽ đảm bảo cho việc thiết lập một liệu pháp sử dụng PAF cho những bệnh nhân thực hiện IUI trong điều trị vô sinh, đặc biệt là những bệnh nhân vô sinh nam. Kết luận, Tinh trùng với PAF có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ thai sau IUI.

William E. Roudebush-BS.Vũ Đình Tuân dịch

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Up ↑

%d bloggers like this: