Rút ngắn thời gian cấy trứng với tinh trùng trong TTTON cổ điển


Trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, quá trình thụ tinh giữa trứng với tinh trùng có thể diễn ra bằng cách (1) cấy trứng với tinh trùng như đối với thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển (IVF) hay (2) tiêm tinh trùng đã bất động trực tiếp vào bào tương trứng (ICSI).

Nhiều nghiên cứu trên người cho thấy trong tự nhiên, chỉ 20 phút sau khi tinh trùng có mặt ở âm đạo người phụ nữ là quá trình thụ tinh giữa trứng với tinh trùng đã có thể diễn ra. Trong thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển, trứng của người phụ nữ sau khi chọc hút sẽ được nuôi cấy trong môi trường chuyên biệt khoảng 4-6 tiếng, sau đó, được cho tiếp xúc với môi trường có chứa tinh trùng của người chồng ở mật độ khoảng 100.000 tinh trùng di động/ml/trứng. Thời gian cấy sẽ kéo dài qua đêm, thường khoảng từ 16-20 tiếng. Sau đó trứng sẽ được quan sát dưới kính hiển vi ở độ phóng đại khoảng 200-300 lần để xác định hiện tượng thụ tinh có diễn ra hay không. Vào thời điểm này, trên màng trong suốt bao quanh trứng cũng có thể quan sát thấy những tinh trùng còn bám dày đặc nhưng không “chui” sâu hơn được vào bên trong. Ngoài ra, trong môi trường chung quanh vẫn còn nhiều tinh trùng sống lẫn các tinh trùng chết, các tế bào quanh trứng bị rã và đang trên đường thoái hóa…

CÁC BẤT LỢI CỦA VIỆC CẤY TRỨNG VỚI TINH TRÙNG QUA ĐÊM

Trong cấy trứng với tinh trùng qua đêm, trứng sau khi cho vào môi trường có chứa tinh trùng thì sẽ được cho vào tủ cấy để đến sáng hôm sau. Do đó, việc cấy trứng với tinh trùng qua đêm có thể làm đơn giản phần nào quy trình phức tạp vốn có của kỹ thuật TTTON, hơn nữa, có thể làm giảm chi phí về trang thiết bị, nhân lực và quan trọng nhất là giảm tối đa thời gian trứng phải tiếp xúc với môi trường bên ngoài.

Tuy nhiên, thời gian tiếp xúc với tinh trùng (sống lẫn chết), cũng như với các tế bào quanh trứng đang bị thoái hoá cũng gây ra những bất lợi đáng kể. Nhiều nghiên cứu cho rằng tiếp xúc với tinh trùng quá lâu có thể làm thay đổi cấu trúc màng trong suốt-một lớp màng tế bào bao bên ngoài trứng, có thể làm cho màng này trở nên cứng và dai hơn. Hậu quả là phôi khó thoát ra khỏi màng này và do đó, quá trình làm tổ của phôi sẽ bị ảnh hưởng. Ngoài ra, người ta còn ghi nhận được các độc tố, các chất oxýt hoá được tiết ra từ những tinh trùng chết, các tế bào bao quanh trứng bị thoái hóa… Ngoài tác dụng gây độc đối với tế bào, những chất này còn có khả năng tạo ra những bất thường trong cấu trúc di truyền như tạo ra sự phân mảnh của DNA (DNA fragmentation), làm ảnh hưởng đến khả năng làm tổ của phôi sau này.

LỢI ÍCH CỦA RÚT NGẮN THỜI GIAN CẤY

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thời gian tiếp xúc của trứng với tinh trùng chỉ sau 1 tiếng là đã đủ để hiện tượng thụ tinh có thể xảy ra một cách bình thường. Rút ngắn thời gian cấy trứng với tinh trùng không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng thụ tinh của trứng sau cấy. Trong nghiên cứu của Durnfeld và cs, 158 bệnh nhân làm IVF được chia làm hai nhóm, nhóm (1) gồm những bệnh nhân có trứng được cấy với tinh trùng trong vòng 1 tiếng, sau đó, trứng được rửa và chuyển qua môi trường mới; nhóm (2) gồm những bệnh nhân có trứng được cấy với tinh trùng qua đêm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi phân chia giữa hai nhóm bệnh nhân là như nhau. Tuy nhiên, bệnh nhân thuộc nhóm 1 có tỷ lệ phôi chất lượng tốt cao hơn, tỷ lệ phôi làm tổ cao hơn, và tỷ lệ thai lâm sàng cũng cao hơn so với nhóm cấy qua đêm (39% so với 23%).

KINH NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ

Trong thời gian qua, số liệu hàng năm tại đơn vị Thụ tinh trong ống nghiệm cho thấy tỷ lệ thai lâm sàng từ các chu kỳ TTTON cổ điển luôn có khuynh hướng thấp hơn so với ICSI. Bắt đầu từ giữa năm 2004, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm rút ngắn thời gian cấy của trứng với tinh trùng xuống còn 02 tiếng. Ngoài ra, để hạn chế tối đa thời gian tiếp xúc của trứng với môi trường bên ngoài, toàn bộ thao tác cấy trứng, rửa trứng sau cấy… đều được tiến hành trong một tủ thao tác chuyên dụng có hệ thống sưởi ấm và cung cấp CO2 ổn định. Kết quả bước đầu cho thấy rất khả quan, tỷ lệ thụ tinh bình thường không bị ảnh hưởng, trong khi đó, chất lượng phôi tốt hơn, tỷ lệ bệnh nhân có phôi trữ sau khi chuyển phôi tươi cũng cao hơn so với nhóm cấy qua đêm trước đây. Một điểm quan trọng là tỷ lệ thai lâm sàng được cải thiện đáng kể (số liệu chưa công bố.)

BS Đặng Quang Vinh

Tài liệu tham khảo
1.Textbook of Assisted Reproductive Techniques, 2001
2. Fertility and Sterility 2002

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Up ↑

%d bloggers like this: